Đâu có nghĩa là: anh cứ lớn hơn tôi là anh có thể biết nhiều hơn tôi!
Tôi trích dẫn bài viết "Những bài văn ... Dễ Sợ!" của Tuổi Trẻ là để nói đến một việc tương tự về một thằng nữa trong phòng TN&DA. Tuy không phải là hoàn toàn nhưng mà như ở phần dưới tôi có nhắc đến một thằng có tên là Ngọc. Chuyên gia sai chính tả và có một cái đầu rỗng tuếch chẳng biết cái gì về kiến thức sơ đẳng của cuộc sống. Phần đã qua tôi nói về chính tả, phần này tôi xin nói về phần kiến thức sơ đẳng của cuộc sống, mà điển hình đó là chuyện nhạc. Có một lần tay Thắng có hỏi tôi một câu gì đó mà tôi không còn nhớ nữa thì tôi có trả lời là nhạc tiền chiến là những bài hát được sáng tác trước năm 1945. Thế là thằng Ngọc nhà ta đã không biết lại lồng lộn lên nói rằng không phải, rằng là "trước mỗi trận chiến thì nhạc sĩ thường sáng tác nhạc để cổ vũ tinh thần anh em, rằng Trịnh Công Sơn cũng có nhiều bài là nhạc tiền chiến". Ha ha ha, đúng là điếc không sợ súng. Người ta nói rằng biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe, thằng Ngọc đã không biết một cái ất giáp gì rồi mà còn to mồm lớn lối, càng nói càng lộ rõ cái ngu dốt ra. Đúng là thầy nào (thằng Dục) thì trò nấy (thằng Ngọc)!
Xin thưa với các bạn, để nói một cách bình dân thì tôi xin nói như sau: những năm trước 1945 (hay Cách Mạng Tháng Tám) nước ta là một nước thuộc địa của Pháp, (chắc thằng Ngọc cũng không hiểu hai chữ “thuộc địa” là gì luôn chắc quá!). Do đó, những cuộc nổi dậy, đấu tranh hay phong trào của người này người nọ nổi lên nó chỉ mang tính bột phát. Điều này người ta chỉ nói nôm na rằng đó là sự đấu tranh của một dân tộc trong lòng quốc mẫu vì không chịu được sự cai trị chứ không thể gọi là cuộc chiến tranh được! Khi Cách Mạng Tháng Tám nổ ra, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ thì nhân dân đã giành chính quyền và thành lập một đất nước có chủ quyền đàng hoàng. Lúc này những cuộc chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam và Pháp mới được gọi là cuộc chiến hay là chiến tranh. Vì chiến tranh hiểu một cách đơn giản là sự tranh chấp giữa hai cá thể (ở mức độ nhỏ hơn), giữa hai chủ thể (ở một mức độ lớn hơn). Do đó, tất cả những gì đã xảy ra từ trước năm 1945 được lịch sử công nhận thì gọi là “tiền chiến” nói đơn giản là trước chiến tranh mà thôi. Nhạc cũng vậy!
Theo tuyển tập HÁT VỀ TÌNH BẠN TÌNH YÊU - CA KHÚC TUYỂN CHỌN do NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC và TẠP CHÍ ÂM NHẠC phát hành năm 1990 có đoạn cho biết:
“…Nghệ thuật ca khúc mới ở nước ta bắt đầu từ giữa những năm ba mươi – dưới thời thuộc Pháp, trong bối cảnh đời sống kinh tế - chính trị - xã hội có nhiều thay đổi lớn sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp. Giành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng cá nhân vẫn là mục tiêu của đấu tranh chống thực dân phong kiến. Văn thơ đã có bước ngoặt mới. Nhưng với nghệ thuật ca khúc, thì có muộn màng hơn – mãi đến khi có sự du nhập của điện ảnh có tiếng nói và phong trào nhạc hướng đạo sinh cùng nhạc nhẹ châu Âu chủ yếu là nhạc nhẹ Pháp. Để sánh vai với văn thơ trên con đường “cách tân” những người yêu ca nhạc Việt Nam cảm thấy một bức xúc phải có những bài hát Việt Nam theo phong cách mới. Bên cạnh dòng ca nhạc cách mạng yêu nước trực tiếp nói đến vấn đề giải phóng dân tộc khêu gợi lòng yêu nước, tập hợp, lôi cuốn thanh niên đi vào cuộc sống lành mạnh, yêu thiên nhiên, giang sơn gấm vóc của tổ tiên, đã hình thành dòng ca nhạc trữ tình lãng mạn (những bài hát về tình yêu phần nhiều ở dòng nhạc này). Gọi như vậy vì sinh sau đẻ muộn, nó chịu ít nhiều ảnh hưởng của phong trào thơ mới lúc bấy giờ đã bước vào thời kỳ cuối. Nó pha màu hoài cổ, ru người trong cõi mộng mơ,ảo huyền, có xu hướng thu mình trong cái tôi muôn thuở thoát ly thực tế đời sống đau thương của một dân tộc đang sôi sục đấu tranh vì độc lập tự do. Về hình thức cấu trúc, nó gia nhập phong trào nhạc nhẹ lúc bấy giờ với những điệu fox-trot, tango, valse, rumba… Nó có những hạn chế nhất định trong cách vận dụng khi đề cập vấn đề muốn giãi bày nhất là khi đất nước đang có những bước chuyển mình quan trọng (1940 –1945). Tuy nhiên phải nhìn nhận mặt đóng góp của nó cho sự phát triển của phong trào ca khúc Việt Nam mới được nhen nhóm. Không kể rất nhiều bài hát ra rả ở các phòng trà tiệm nhảy, dòng nhạc này cũng có một số bài hát để lại ấn tượng trong tâm tưởng con người Việt Nam. Phải chăng cái để lại đó là bản sắc dân tộc được vận dụng với cấu trúc ca khúc mới, những âm điệu có phần đáp ứng thẩm mỹ mới, mặc dù đề tài chỉ là cái cớ để giãi bày một khía cạnh tâm tư thầm kín, lời ca lập lại một số khuôn sáo trong ngôn từ thường dùng thời ấy. Với cái nhìn khái quát rộng mở, phải chăng dòng nhạc này cũng đã góp thêm những nét đáng ghi nhận bộ mặt nghệ thuật ca khúc trước nhiều khía cạnh đời sống xã hội, làm cho “ tân nhạc” thêm phần đa dạng. Trong một chừng mực, nó đã thay thế nhữung bản nhạc ngoại lai xâm nhập. Với tư cách đó, nó là một dòng chảy cùng đổ vềmột phía để nhập vào dòng thác lớn những bai ca cách mạng yêu nước mà sức mạnh đã tỏ rõ thực lực cuốn hút mọi người đi tới cao trào Cách mạng tháng Tám. Việc chọn lựa để giới thiệu một số bài hát có những phần sáng tạo nghệ thuật trước cách mạng thuộc dòng này là do những ý nghĩa đó – những bài hát lâu nay có người hay gọi là “tiền chiến”. Theo chúng tôi, đó là cách gọi không chính xác, không khoa học, gây ngộ nhận. “Tiền chiến” có nghĩa là trước chiến tranh. Nhưng là chiến tranh nào, vì ai, cho ai? Và lấy mốc thời gian nào? Do vậy cho đến nay, vẫn còn có người nhầm lẫn những Sơn nữ ca, Nụ cười sơn cước, Quay tơ, Dư âm, Em đến thăm anh một chiều mưa, Tạ từ là “nhạc tiền chiến”. Thực ra những bài hát này đều được sáng tác trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Phong cách, bút pháp, âm hưởng bài hát đó là bước chuyển tiếp của dòng nhạc lãng mạn trong khung cảnh kháng chiến. Nụ cười sơn cước, Sơn nữ ca ….đó là Tô Hải, Trần Hoàn của những năm 47 – 48, giữa tuổi mười tám, đôi mươi, còn bâng khuâng, ngỡ ngàng trước hình ảnh cô gái miền núi, cảm xúc của những cậu học sinh đô thị chưa nhuốm bụi trường chinh, vừa đặt chân lên đường chiến đấu. Với Sơn nữ ca, tác giả còn muốn nói lên điều ẩn trong lòng: chàng trai đâu đã dễ “khô cạn từ lâu nước mắt sầu thương”!…” Qua những điều này chúng ta đã rõ thế nào là khái niệm “tiền chiến”, đồng thời cũng cho biết rằng khái niệm tiền chiến khiến cho người ta dễ ngộ nhận, lầm lẫn. Do đó, nếu có muốn nói về những bài hát mà được sáng tác từ những năm 30 – 40 của thế kỷ XX thì chúng ta chỉ có một khái niệm duy nhất được công nhận đó là giai đoạn đầu của “tân nhạc” Việt Nam. Và giả sử như rằng theo thói quen của những người nghe nhạc bao đời, thì với khái niệm “nhạc tiền chiến” chỉ được ghi nhận cho giai đoạn trước năm 1945 mà thôi hay chính xác là trước ngày tự chủ đầu tiên của đất nước Việt Nam. Nói tóm lại khái niệm “nhạc tiền chiến” chỉ mang tính truyền miệng hay chỉ tồn tại trên văn nói mà thôi chứ ca nhạc Việt Nam chỉ có những thời kỳ - của giai đoạn “TÂN NHẠC” được ghi nhận trong sách vở. Tôi phải nhấn mạnh điều này vì thằng Ngọc ở CDTI nó vẫn không hiểu gì về Tân nhạc Việt Nam nên buộc lòng tôi phải cố gắng giải thích cho nó như là giải thích cho một đứa bé lên 3 tuổi! Nhưng mà một đứa bé khi giải thích nó còn hiểu chứ thằng này đã ngu rồi mà còn bảo thủ nữa thì quả thật bó tay. Nó nói rằng nhạc sĩ TCS mà cũng có viết nhạc tiền chiến thì đúng là hết nói nổi cho cái đầu bò với bộ óc toàn bã đậu đen (chứ chưa đáng được đậu tương để làm nước tương CHIN – SU rồi còn lại là bã đậu tương đó).
Những ngày cuối cùng của tôi ở CDTI tôi có cơ hội đi mua 2 cuốn sách “HỒI ỨC” của Nhạc sĩ Phạm Duy tại hội chợ sách ở góc đường Võ Thị Sáu và Nguyễn Thông. Phải nói là ông đã viết rất hay, đọc rất đã. Ít nhiều đã giải toả nhiều thắc mắc còn hoài nghi mà mình đã nghĩ về ca nhạc Việt Nam thời kỳ đầu. Sau khi đọc 2 cuốn đó tôi được biết thêm nhiều thông tin của Tân nhạc Việt Nam cũng như những người bạn từng bước qua cuộc đời nhạc sĩ tài hoa này: NGUYỄN VĂN TUYÊN (người Huế - người được coi như con chim đầu đàn “khơi mào” cho phong cách viết nhạc “bài ta theo điệu tây”). Ở Hải Phòng thì có nhóm LÊ THƯƠNG, HOÀNG QUÝ, PHẠM NGỮ, HOÀNG PHÚ (sau này đổi tên là TÔ VŨ), CANH THÂN (tức TINO THÂN), VĂN TRANG, VĂN CAO… Ở Nam Định thì có ĐẶNG THẾ PHONG, BÙI CÔNG KỲ, HOÀNG TRỌNG, ĐAN THỌ… Ở Huế, ngoài Nguyễn Văn Tuyên, đã có thêm nhạc sĩ NGUYỄN VĂN THƯƠNG, VĂN GIẢNG. Ở Đà Nẵng và Hội An, xuất hiện những gương mặt mới đẩy mạnh phong trào âm nhạc cải cách do Nguyễn Văn Tuyên vừa đề xướng: PHAN HUỲNH ĐIỂU, LA HỐI. Bên cạnh đó không thể không nói đến công lao của những người nhạc sĩ tài hoa như THẨM OÁNH, DƯƠNG THIỆU TƯỚC (nổi bật nhất trong nhóm MYOSOTIS), ba “kiện tướng” VĂN CHUNG, LÊ YÊN, DZOÃN MẪN trong nhóm TRICEA, và những nhạc sĩ độc lập sáng tác như NGUYỄN ĐÌNH PHÚC, LƯU BÁCH THỤ, HOÀNG GIÁC, NGUYỄN VĂN KHÁNH, đôi bạn DZOÃN CẢNH – VĂN THUỶ, LƯƠNG NGỌC CHÂU, NGUYỄN THIỆN TƠ...
Tôi trích dẫn bài viết "Những bài văn ... Dễ Sợ!" của Tuổi Trẻ là để nói đến một việc tương tự về một thằng nữa trong phòng TN&DA. Tuy không phải là hoàn toàn nhưng mà như ở phần dưới tôi có nhắc đến một thằng có tên là Ngọc. Chuyên gia sai chính tả và có một cái đầu rỗng tuếch chẳng biết cái gì về kiến thức sơ đẳng của cuộc sống. Phần đã qua tôi nói về chính tả, phần này tôi xin nói về phần kiến thức sơ đẳng của cuộc sống, mà điển hình đó là chuyện nhạc. Có một lần tay Thắng có hỏi tôi một câu gì đó mà tôi không còn nhớ nữa thì tôi có trả lời là nhạc tiền chiến là những bài hát được sáng tác trước năm 1945. Thế là thằng Ngọc nhà ta đã không biết lại lồng lộn lên nói rằng không phải, rằng là "trước mỗi trận chiến thì nhạc sĩ thường sáng tác nhạc để cổ vũ tinh thần anh em, rằng Trịnh Công Sơn cũng có nhiều bài là nhạc tiền chiến". Ha ha ha, đúng là điếc không sợ súng. Người ta nói rằng biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe, thằng Ngọc đã không biết một cái ất giáp gì rồi mà còn to mồm lớn lối, càng nói càng lộ rõ cái ngu dốt ra. Đúng là thầy nào (thằng Dục) thì trò nấy (thằng Ngọc)!
Xin thưa với các bạn, để nói một cách bình dân thì tôi xin nói như sau: những năm trước 1945 (hay Cách Mạng Tháng Tám) nước ta là một nước thuộc địa của Pháp, (chắc thằng Ngọc cũng không hiểu hai chữ “thuộc địa” là gì luôn chắc quá!). Do đó, những cuộc nổi dậy, đấu tranh hay phong trào của người này người nọ nổi lên nó chỉ mang tính bột phát. Điều này người ta chỉ nói nôm na rằng đó là sự đấu tranh của một dân tộc trong lòng quốc mẫu vì không chịu được sự cai trị chứ không thể gọi là cuộc chiến tranh được! Khi Cách Mạng Tháng Tám nổ ra, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ thì nhân dân đã giành chính quyền và thành lập một đất nước có chủ quyền đàng hoàng. Lúc này những cuộc chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam và Pháp mới được gọi là cuộc chiến hay là chiến tranh. Vì chiến tranh hiểu một cách đơn giản là sự tranh chấp giữa hai cá thể (ở mức độ nhỏ hơn), giữa hai chủ thể (ở một mức độ lớn hơn). Do đó, tất cả những gì đã xảy ra từ trước năm 1945 được lịch sử công nhận thì gọi là “tiền chiến” nói đơn giản là trước chiến tranh mà thôi. Nhạc cũng vậy!
Theo tuyển tập HÁT VỀ TÌNH BẠN TÌNH YÊU - CA KHÚC TUYỂN CHỌN do NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC và TẠP CHÍ ÂM NHẠC phát hành năm 1990 có đoạn cho biết:
“…Nghệ thuật ca khúc mới ở nước ta bắt đầu từ giữa những năm ba mươi – dưới thời thuộc Pháp, trong bối cảnh đời sống kinh tế - chính trị - xã hội có nhiều thay đổi lớn sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp. Giành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng cá nhân vẫn là mục tiêu của đấu tranh chống thực dân phong kiến. Văn thơ đã có bước ngoặt mới. Nhưng với nghệ thuật ca khúc, thì có muộn màng hơn – mãi đến khi có sự du nhập của điện ảnh có tiếng nói và phong trào nhạc hướng đạo sinh cùng nhạc nhẹ châu Âu chủ yếu là nhạc nhẹ Pháp. Để sánh vai với văn thơ trên con đường “cách tân” những người yêu ca nhạc Việt Nam cảm thấy một bức xúc phải có những bài hát Việt Nam theo phong cách mới. Bên cạnh dòng ca nhạc cách mạng yêu nước trực tiếp nói đến vấn đề giải phóng dân tộc khêu gợi lòng yêu nước, tập hợp, lôi cuốn thanh niên đi vào cuộc sống lành mạnh, yêu thiên nhiên, giang sơn gấm vóc của tổ tiên, đã hình thành dòng ca nhạc trữ tình lãng mạn (những bài hát về tình yêu phần nhiều ở dòng nhạc này). Gọi như vậy vì sinh sau đẻ muộn, nó chịu ít nhiều ảnh hưởng của phong trào thơ mới lúc bấy giờ đã bước vào thời kỳ cuối. Nó pha màu hoài cổ, ru người trong cõi mộng mơ,ảo huyền, có xu hướng thu mình trong cái tôi muôn thuở thoát ly thực tế đời sống đau thương của một dân tộc đang sôi sục đấu tranh vì độc lập tự do. Về hình thức cấu trúc, nó gia nhập phong trào nhạc nhẹ lúc bấy giờ với những điệu fox-trot, tango, valse, rumba… Nó có những hạn chế nhất định trong cách vận dụng khi đề cập vấn đề muốn giãi bày nhất là khi đất nước đang có những bước chuyển mình quan trọng (1940 –1945). Tuy nhiên phải nhìn nhận mặt đóng góp của nó cho sự phát triển của phong trào ca khúc Việt Nam mới được nhen nhóm. Không kể rất nhiều bài hát ra rả ở các phòng trà tiệm nhảy, dòng nhạc này cũng có một số bài hát để lại ấn tượng trong tâm tưởng con người Việt Nam. Phải chăng cái để lại đó là bản sắc dân tộc được vận dụng với cấu trúc ca khúc mới, những âm điệu có phần đáp ứng thẩm mỹ mới, mặc dù đề tài chỉ là cái cớ để giãi bày một khía cạnh tâm tư thầm kín, lời ca lập lại một số khuôn sáo trong ngôn từ thường dùng thời ấy. Với cái nhìn khái quát rộng mở, phải chăng dòng nhạc này cũng đã góp thêm những nét đáng ghi nhận bộ mặt nghệ thuật ca khúc trước nhiều khía cạnh đời sống xã hội, làm cho “ tân nhạc” thêm phần đa dạng. Trong một chừng mực, nó đã thay thế nhữung bản nhạc ngoại lai xâm nhập. Với tư cách đó, nó là một dòng chảy cùng đổ vềmột phía để nhập vào dòng thác lớn những bai ca cách mạng yêu nước mà sức mạnh đã tỏ rõ thực lực cuốn hút mọi người đi tới cao trào Cách mạng tháng Tám. Việc chọn lựa để giới thiệu một số bài hát có những phần sáng tạo nghệ thuật trước cách mạng thuộc dòng này là do những ý nghĩa đó – những bài hát lâu nay có người hay gọi là “tiền chiến”. Theo chúng tôi, đó là cách gọi không chính xác, không khoa học, gây ngộ nhận. “Tiền chiến” có nghĩa là trước chiến tranh. Nhưng là chiến tranh nào, vì ai, cho ai? Và lấy mốc thời gian nào? Do vậy cho đến nay, vẫn còn có người nhầm lẫn những Sơn nữ ca, Nụ cười sơn cước, Quay tơ, Dư âm, Em đến thăm anh một chiều mưa, Tạ từ là “nhạc tiền chiến”. Thực ra những bài hát này đều được sáng tác trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Phong cách, bút pháp, âm hưởng bài hát đó là bước chuyển tiếp của dòng nhạc lãng mạn trong khung cảnh kháng chiến. Nụ cười sơn cước, Sơn nữ ca ….đó là Tô Hải, Trần Hoàn của những năm 47 – 48, giữa tuổi mười tám, đôi mươi, còn bâng khuâng, ngỡ ngàng trước hình ảnh cô gái miền núi, cảm xúc của những cậu học sinh đô thị chưa nhuốm bụi trường chinh, vừa đặt chân lên đường chiến đấu. Với Sơn nữ ca, tác giả còn muốn nói lên điều ẩn trong lòng: chàng trai đâu đã dễ “khô cạn từ lâu nước mắt sầu thương”!…” Qua những điều này chúng ta đã rõ thế nào là khái niệm “tiền chiến”, đồng thời cũng cho biết rằng khái niệm tiền chiến khiến cho người ta dễ ngộ nhận, lầm lẫn. Do đó, nếu có muốn nói về những bài hát mà được sáng tác từ những năm 30 – 40 của thế kỷ XX thì chúng ta chỉ có một khái niệm duy nhất được công nhận đó là giai đoạn đầu của “tân nhạc” Việt Nam. Và giả sử như rằng theo thói quen của những người nghe nhạc bao đời, thì với khái niệm “nhạc tiền chiến” chỉ được ghi nhận cho giai đoạn trước năm 1945 mà thôi hay chính xác là trước ngày tự chủ đầu tiên của đất nước Việt Nam. Nói tóm lại khái niệm “nhạc tiền chiến” chỉ mang tính truyền miệng hay chỉ tồn tại trên văn nói mà thôi chứ ca nhạc Việt Nam chỉ có những thời kỳ - của giai đoạn “TÂN NHẠC” được ghi nhận trong sách vở. Tôi phải nhấn mạnh điều này vì thằng Ngọc ở CDTI nó vẫn không hiểu gì về Tân nhạc Việt Nam nên buộc lòng tôi phải cố gắng giải thích cho nó như là giải thích cho một đứa bé lên 3 tuổi! Nhưng mà một đứa bé khi giải thích nó còn hiểu chứ thằng này đã ngu rồi mà còn bảo thủ nữa thì quả thật bó tay. Nó nói rằng nhạc sĩ TCS mà cũng có viết nhạc tiền chiến thì đúng là hết nói nổi cho cái đầu bò với bộ óc toàn bã đậu đen (chứ chưa đáng được đậu tương để làm nước tương CHIN – SU rồi còn lại là bã đậu tương đó).
Những ngày cuối cùng của tôi ở CDTI tôi có cơ hội đi mua 2 cuốn sách “HỒI ỨC” của Nhạc sĩ Phạm Duy tại hội chợ sách ở góc đường Võ Thị Sáu và Nguyễn Thông. Phải nói là ông đã viết rất hay, đọc rất đã. Ít nhiều đã giải toả nhiều thắc mắc còn hoài nghi mà mình đã nghĩ về ca nhạc Việt Nam thời kỳ đầu. Sau khi đọc 2 cuốn đó tôi được biết thêm nhiều thông tin của Tân nhạc Việt Nam cũng như những người bạn từng bước qua cuộc đời nhạc sĩ tài hoa này: NGUYỄN VĂN TUYÊN (người Huế - người được coi như con chim đầu đàn “khơi mào” cho phong cách viết nhạc “bài ta theo điệu tây”). Ở Hải Phòng thì có nhóm LÊ THƯƠNG, HOÀNG QUÝ, PHẠM NGỮ, HOÀNG PHÚ (sau này đổi tên là TÔ VŨ), CANH THÂN (tức TINO THÂN), VĂN TRANG, VĂN CAO… Ở Nam Định thì có ĐẶNG THẾ PHONG, BÙI CÔNG KỲ, HOÀNG TRỌNG, ĐAN THỌ… Ở Huế, ngoài Nguyễn Văn Tuyên, đã có thêm nhạc sĩ NGUYỄN VĂN THƯƠNG, VĂN GIẢNG. Ở Đà Nẵng và Hội An, xuất hiện những gương mặt mới đẩy mạnh phong trào âm nhạc cải cách do Nguyễn Văn Tuyên vừa đề xướng: PHAN HUỲNH ĐIỂU, LA HỐI. Bên cạnh đó không thể không nói đến công lao của những người nhạc sĩ tài hoa như THẨM OÁNH, DƯƠNG THIỆU TƯỚC (nổi bật nhất trong nhóm MYOSOTIS), ba “kiện tướng” VĂN CHUNG, LÊ YÊN, DZOÃN MẪN trong nhóm TRICEA, và những nhạc sĩ độc lập sáng tác như NGUYỄN ĐÌNH PHÚC, LƯU BÁCH THỤ, HOÀNG GIÁC, NGUYỄN VĂN KHÁNH, đôi bạn DZOÃN CẢNH – VĂN THUỶ, LƯƠNG NGỌC CHÂU, NGUYỄN THIỆN TƠ...
No comments:
Post a Comment